
Một thập kỷ tăng trưởng cao giúp thương mại điện tử trở thành kênh mua sắm chủ lực của người Việt, nhưng cũng bộc lộ nhiều yếu tố thiếu bền vững: rác thải bao bì, vật liệu nhựa khó phân hủy; khoảng cách phát triển giữa Hà Nội, TP.HCM với các địa phương; và đặc biệt là khoảng trống nguồn nhân lực “làm được việc” ở nhiều khâu – từ vận hành sàn, logistics, thanh toán đến tuân thủ pháp luật.
Trong bối cảnh đó, hai “đường ray” chính sách quan trọng đang định hình giai đoạn tới: Luật Thương mại điện tử được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030 (Quyết định 1568/QĐ-BCT ngày 03/6/2025). Cả hai đều nhấn mạnh quan điểm phát triển TMĐT bền vững theo hướng xanh, tuần hoàn, giảm tác động tiêu cực tới môi trường và tạo giá trị cho cộng đồng. VECOM cho biết báo cáo 2025 được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), nhằm nhìn thẳng vào bài toán nhân lực cho TMĐT bền vững.

Dữ liệu cho thấy: khoảng 70% chương trình có học phần về pháp luật TMĐT, nhưng chỉ 38% trường có học phần về TMĐT xuyên biên giới và chỉ 26% trường đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo. Đây là nghịch lý: yêu cầu chiến lược đã rõ – vừa phải xanh, vừa phải đẩy mạnh xuất khẩu trực tuyến – nhưng chương trình đào tạo lại chưa “phổ cập” đúng mức.
Ở đây có một vấn đề rất thực tế: trong nhiều trường, nếu có ba học phần liên quan (pháp luật TMĐT, TMĐT & bảo vệ môi trường, TMĐT xuyên biên giới) thì thường vẫn là học phần tự chọn. Muốn đưa thành bắt buộc, các trường sẽ phải đối mặt với 4 việc khó: sửa đổi chương trình đào tạo; bồi dưỡng đội ngũ giảng viên; xây dựng giáo trình – học liệu; và mở rộng liên kết với tổ chức/doanh nghiệp liên quan đến môi trường và TMĐT xuyên biên giới.

Kết quả khảo sát tại 238 cơ sở giáo dục đại học (không thuộc khối Quốc phòng – An ninh, Nghệ thuật hoặc đặc thù) cho thấy đến năm 2025 có 47 trường đào tạo ngành TMĐT, 16 trường đào tạo chuyên ngành TMĐT và 113 học phần TMĐT. So với các năm trước, số cơ sở đào tạo tiếp tục tăng. Một số trường mới mở ngành TMĐT so với khảo sát 2023 gồm: ĐH Bà Rịa – Vũng Tàu, ĐH Công nghệ Miền Đông, ĐH Kiên Giang, ĐH Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, ĐH Thăng Long và ĐH Nghệ An.
Sức hút thể hiện rõ ở tuyển sinh. Số lượng tuyển sinh mới ngành TMĐT tăng từ 3.479 sinh viên (năm học 2023–2024) lên 4.987 sinh viên (năm học 2025–2026). Ở góc nhìn chất lượng đầu vào, 79% trường cho biết điểm chuẩn trúng tuyển có xu hướng tăng qua từng năm. Con số này nói đơn giản: TMĐT đang “đắt khách” và các trường phải chịu áp lực đào tạo nghiêm túc hơn, vì người học kỳ vọng việc làm và sự thăng tiến là thật – không phải “môn hot theo trend”.
Nhóm nghiên cứu nhận xét việc tiếp cận thông tin chương trình đào tạo qua website trường đã thuận lợi hơn trước, nhờ quy định “Ba công khai” và nhu cầu truyền thông tuyển sinh. Nhiều trường công bố danh mục học phần, số tín chỉ, lộ trình học theo học kỳ và chuẩn đầu ra, giúp thí sinh, doanh nghiệp và nhà quản lý có cơ sở tham chiếu ban đầu.

Tuy nhiên, càng đi sâu càng gặp vướng. Khó khăn lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng nhất định dạng và cấu trúc dữ liệu: nơi đăng dạng HTML dễ đọc, nơi tải file Word, nơi lại lưu trên Google Drive; vị trí đặt tài liệu cũng “mỗi trường một kiểu”, có trường để trong “Ba công khai”, có trường nằm sâu trong website khoa/viện; công cụ tìm kiếm nội bộ còn yếu. Thêm một điểm đáng chú ý: tính cập nhật chưa cao, có nơi tài liệu công bố không phản ánh phiên bản mới nhất. Với mục tiêu kiểm định chất lượng, so sánh liên trường và nâng chuẩn đào tạo, đây là “nút thắt mềm” nhưng gây tốn thời gian và nguồn lực thật.

Báo cáo 2025 tập trung khảo sát các học phần đặc thù. Pháp luật TMĐT là nội dung được nhiều trường giảng dạy nhất; tiếp theo là an toàn, bảo mật TMĐT và quản trị dự án TMĐT. Ngược lại, hai học phần ít được chú ý nhất lại chính là những thứ sẽ quyết định “độ bền” của TMĐT trong giai đoạn tới: TMĐT xuyên biên giới và bảo vệ môi trường trong TMĐT.
Khánh Hà
















